13/08/2020 10:02
Xem với cỡ chữ

Nâng cao chất lượng tín dụng trong tiến trình tái cơ cấu VDB

Ngọc Châu (bài đăng số Tháng 3/2020 Tạp chí HTPT)
Nâng cao chất lượng tín dụng luôn được xem là mục tiêu quan trọng hàng đầu trong hoạt động của Ngân hàng Phát triển Việt Nam (VDB). 
Trong giai đoạn hiện nay, việc nỗ lực đẩy mạnh công tác thu hồi, xử lý nợ, kiềm chế gia tăng, giảm nợ xấu được coi vừa là mục tiêu, vừa là giải pháp nhằm nâng cao chất lượng tín dụng trong tiến trình cơ cấu lại hoạt động của VDB theo đề án được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt.
Xét trong phạm vi hẹp thì giảm tỷ lệ nợ xấu có nghĩa là giảm tỷ lệ giữa nợ thuộc các nhóm từ 3 đến 5 trong tổng số nợ từ nhóm 1 đến nhóm 5. Để giảm tỷ lệ này, thông thường phải thực hiện đồng bộ hai việc: Thứ nhất, là tìm giải pháp gia tăng doanh số, nâng tổng dư nợ từ nhóm 1 đến nhóm 5, nâng chất lượng thẩm định, quản lý tín dụng (tìm kiếm dự án mới để ký hợp đồng cho vay; thực hiện giải ngân vốn vay mới theo hợp đồng tín dụng đã ký…). Thứ hai, nỗ lực thực hiện quyết liệt các giải pháp nhằm kéo giảm nợ thuộc các nhóm từ 3 đến 5, đồng thời kiềm chế gia tăng nợ thuộc các nhóm này. Đây là cách làm lý tưởng hướng đến hoạt động tăng trưởng tín dụng bền vững. Tuy nhiên, hiện nay cơ chế chính sách về tín dụng đầu tư của Nhà nước còn nhiều bất cập, những vướng mắc liên quan đến hoạt động của VDB chưa được tháo gỡ triệt để và thiếu đồng bộ (quan trọng nhất là Quy chế xử lý rủi ro; Quy chế tài chính; tỷ lệ phí quản lý ổn định 3 năm cho VDB để có cơ sở công bố lãi suất cho vay vẫn đang chờ cấp thẩm quyền xem xét quyết định). Do vậy, việc gia tăng dư nợ, nhất là cho vay tín dụng đầu tư đối với các dự án mới là chưa thể thực hiện. Trong điều kiện đó, để giảm tỷ lệ nợ xấu chỉ có thể là tập trung tìm kiếm, triển khai thực hiện có hiệu quả các giải pháp giảm nợ thuộc các nhóm từ 3 đến 5. Trong phạm vi rộng hơn, toàn diện hơn thì phải tập trung giảm tỷ lệ cấp tín dụng xấu. Và đây chính là một trong những mục tiêu quan trọng của Chương trình hành động thực hiện Đề án cơ cấu lại VDB - Số dư nợ xấu tại VDB đến 31/12/2020 giảm ít nhất 20%, đến 31/12/2021 giảm ít nhất 30% so với thời điểm ngày 31/12/2018(1). 
Nghị định số 32/2017/NĐ-CP ngày 31/3/2017 về tín dụng đầu tư của Nhà nước, quy định về giải pháp xử lý rủi ro vốn tín dụng đầu tư của Nhà nước bao gồm: Cơ cấu lại thời hạn trả nợ, điều chỉnh kỳ hạn trả nợ, gia hạn nợ, xử lý tài sản bảo đảm, khoanh nợ, chuyển ngoại bảng để xử lý, xóa nợ gốc, xóa nợ lãi và bán nợ. Trong khi đó, xử lý nợ xấu theo Đề án cơ cấu lại VDB có 07 giải pháp: Đôn đốc thu hồi nợ; Cơ cấu lại nợ (điều chỉnh kỳ hạn trả nợ, gia hạn nợ); Khoanh nợ; Bán nợ; Xử lý tài sản bảo đảm; Chuyển theo dõi ngoại bảng; và xóa lãi phạt trên lãi chậm trả. Toàn hệ thống đang tích cực triển khai thực hiện từng nhiệm vụ cụ thể theo chương trình hành động. Việc áp dụng giải pháp nào phải căn cứ Quy chế xử lý rủi ro tín dụng tại VDB và các quy định của pháp luật có liên quan, tùy thuộc đối tượng, điều kiện… do VDB áp dụng hoặc báo cáo cấp có thẩm quyền xem xét áp dụng phù hợp, tuân thủ pháp luật. 
Để có thể thực hiện tốt mục tiêu đề ra, ngoài sự nỗ lực của VDB, cần có sự tiếp sức từ cấp có thẩm quyền bằng những “quyết sách có tầm và đủ lực”. Trong đó, có một số vấn đề cần được chú trọng: 
Thứ nhất, sớm hoàn thiện khung pháp lý liên quan đến tổ chức thực hiện Đề án cơ cấu lại VDB. Trước tiên, những vướng mắc ở Nghị định số 32/2017/NĐ-CP về tín dụng đầu tư của Nhà nước cần sớm được tháo gỡ triệt để. Cùng với đó, Quy chế xử lý rủi ro, Quy chế tài chính, quy định tỷ lệ phí quản lý ổn định 3 năm cho VDB để có cơ sở công bố lãi suất cho vay,… phải được ban hành đồng bộ để có thể triển khai các phần việc tiếp theo đúng quy định và tiến trình thực hiện Đề án. 
Thứ hai, đảm bảo tính đồng bộ, thống nhất giữa các văn bản mang tính pháp lý cao liên quan đến quy định về các giải pháp xử lý rủi ro trong hoạt động của VDB. Cần xem xóa nợ gốc, xóa nợ lãi (không chỉ là xóa lãi phạt trên lãi chậm trả) - đã được quy định trong Nghị định số 32/2017/NĐ-CP của Chính phủ - là một trong những giải pháp quan trọng, là sự bổ sung cần thiết trong tiến trình xử lý nợ theo Đề án cơ cấu lại VDB. Có thể xem đây vừa là công cụ đủ mạnh để xử lý triệt để những vấn đề tồn đọng trong thời gian dài, vừa là một ưu đãi của chính sách tín dụng Nhà nước được cộng đồng doanh nghiệp kỳ vọng.
Thứ ba, chú trọng hơn đến những tính đặc thù trong hoạt động của VDB. Có thể nói, VDB được thành lập trong bối cảnh tình hình kinh tế - xã hội của đất nước có bước chuyển mình mạnh mẽ, yêu cầu hội nhập quốc tế sâu rộng không thể chậm chân. Hoạt động của VDB gắn chặt với những đặc thù - vốn dĩ là sự tiếp nối từ các tổ chức tiền thân. Do vậy, những vấn đề phát sinh từ thực tiễn triển khai hoạt động chắc chắn cũng mang tính đặc thù, được “tích tụ” qua nhiều thời kỳ khác nhau. Rủi ro, xử lý rủi ro nói chung; nợ xấu, xử lý nợ xấu nói riêng vì vậy cũng cần được xem xét, đánh giá toàn diện, khách quan để từ đó lựa chọn, áp dụng giải pháp phù hợp. Bởi lẽ, có những giải pháp xử lý nợ xấu từ lâu đã là “kinh điển” với tổ chức tín dụng nhưng đặt vào tình huống cụ thể của VDB có khi trở thành “rập khuôn” khó hoặc không mang lại hiệu quả. 
Thứ tư, nhận diện đúng, đánh giá trúng thực trạng; xác định rõ danh mục nợ xấu, đâu là nguyên nhân, giải pháp nào là phù hợp trên cơ sở kiểm tra rà soát, phân tích sát thực tiễn. Xây dựng cụ thể phương án xử lý đối với từng nhóm dự án/khoản vay để báo cáo đề xuất cấp thẩm quyền xem xét, xử lý theo quy định. Đây là công việc phải khẩn trương nhưng cần thận trọng trong tổ chức thực hiện, chặt chẽ từ cơ sở; đảm bảo tuân thủ pháp luật, nhất là tinh thần Quyết định số 48/QĐ-TTg và bám sát Chương trình hành động của VDB. 
Thứ năm, công tác xử lý tài sản bảo đảm tiền vay, lâu nay vẫn được VDB chú trọng trong tiến trình xử lý nợ xấu và nỗ lực thực hiện nhưng kết quả và hiệu quả mang lại chưa được như mong muốn. Thực tế cho thấy công việc này mất rất nhiều thời gian, công sức do bị chi phối bởi nhiều quy định pháp luật, văn bản dưới luật; chịu tác động bởi nhiều yếu tố thị trường/phi thị trường; cần có sự phối hợp với nhiều cơ quan. Có lẽ, đây là việc không mong muốn nhưng phải làm, trong hoạt động tín dụng ngân hàng nói chung và VDB cũng không ngoại lệ. Để thực hiện có hiệu quả giải pháp này không chỉ cần có sự tích cực, nỗ lực mà nhất thiết phải có đội ngũ chuyên nghiệp với những kiến thức, kỹ năng chuyên sâu, có mối quan hệ rộng trong “thương trường”. Hiện nay, đây là vấn đề cần tiếp tục chú trọng nhằm mang lại kết quả, hiệu quả khả quan hơn. 
Thứ sáu, về thứ tự thu nợ, tại hướng dẫn thực hiện quy chế, quy trình cho vay vốn tín dụng đầu tư của Nhà nước(2), có quy định “Trường hợp dự án phát sinh nợ quá hạn và thuộc nhóm nợ xấu, Chi nhánh xem xét, quyết định thứ tự ưu tiên thu nợ gốc trước, thu nợ lãi sau”. Đây có thể xem là một trong những giải pháp giảm nợ xấu dễ thực thi và thu kết quả nhanh. Tuy nhiên, để đảm bảo tính thống nhất, hiệu quả trong tổ chức thực hiện, đồng thời đảm bảo nguyên tắc “giảm thiệt hại cho Nhà nước”, thiết nghĩ cần phân định rõ trách nhiệm; quy định cụ thể hơn về trình tự, hồ sơ thủ tục; xác định giới hạn mức độ ưu tiên theo khả năng trả nợ thực tế của khách hàng ở mỗi kỳ hạn trên cơ sở được kiểm tra, rà soát, đánh giá là hợp lý với tinh thần tận thu… đảm bảo nguyên tắc hài hòa lợi ích - cộng đồng trách nhiệm giữa khách hàng và cơ quan thực thi chính sách tín dụng đầu tư của Nhà nước.
Tin tưởng rằng với sự đồng lòng, chung sức nỗ lực của mỗi tập thể, người lao động trong toàn hệ thống sẽ là động lực để từng bước giải quyết có hiệu quả những vấn đề tồn đọng, nâng cao chất lượng tín dụng trong tiến trình cơ cấu lại hoạt động của VDB./.    
--
(1) Chương trình hành động thực hiện Đề án cơ cấu lại VDB;
(2) Văn bản số 1868/NHPT-TDĐT ngày 03/8/2017 của VDB.
 
 
Tìm theo ngày :